Tính từ là gì?

Trật tự trong tính từ

Tính từ là khái niệm bạn thường xuyên bắt gặp khi học ngữ pháp tiếng Việt. Vậy tính từ là gì? Còn chờ gì nữa mà không tìm hiểu ngay sau đây.

Khái niệm

Tính từ là gì
Tính từ là gì?

Trong tiếng Việt lẫn tiếng Anh người ta rất thường sử dụng tính từ, như có câu nói: Cô này đẹp quá, bà kia nhiều chuyện quá. Vô tình bạn đang sử dụng tính từ mà vẫn không biết đó là tính từ. Nên để hiểu về tính từ là gì, chúng tôi sẽ nói rõ hơn.

Tính từ là từ dùng để chỉ về tính chất như: Đẹp, xấu, dài, ngắn,… Tính từ thường được nằm ở vị trí sau danh từ và làm bổ trợ cho danh từ.

Trong ngữ pháp, tính từ, riêng trong tiếng Việt cũng gọi là phụ danh từ là từ mà vai trò cú pháp chính của nó dùng để xác định một danh từ hoặc đại từ. Đồng thời các tính từ tạo thành 1 trong 8 bộ phận lời nói trong tiếng Anh truyền thống, mặc dù các nhà ngôn ngữ học ngày nay tách biệt các tính từ với các từ như từ hạn định. Từ hạn định cũng từng được coi là tính từ.

Không phải tất cả các ngôn ngữ có tính từ nhưng phần lớn ngôn ngữ đều có, bao gồm tiếng Anh. Các tính từ tiếng Anh gồm có: Big (to), old (cũ), và tired (mệt),… Những ngôn ngữ không có tính từ, một cách điển hình, sử dụng các từ của các bộ phận khác trong câu, thường là động từ để phục vụ chức năng cú pháp. Ví dụ một ngôn ngữ có thể có một động từ có nghĩa là “to be big”, và sẽ sử dụng cấu trúc tương tự “big-being house” để biểu thị “big house” trong tiếng Anh.

Ngay cả trong các ngôn ngữ có tính từ thì tính từ của ngôn ngữ này có thể không là tính từ của một ngôn ngữ khác. Ví dụ trong khi tiếng Anh sử dụng “to be hungry” (hungry là một tính từ) thì tiếng Pháp sử dụng “avoir faim” (nghĩa theo từng chữ = “to have hunger”, hunger là một danh từ), tiếng Hebrew sử dụng tính từ “זקוק” (zaqūq, đại loại nghĩa là “in need of”) thì tiếng Anh sử dụng động từ “to need”.

Trong hầu hết các ngôn ngữ có tính từ, chúng tạo thành một lớp từ mở, nghĩa là các tính từ mới được tạo thành thông qua quá trình cấu tạo từ tương đối phổ biến.

Các loại tính từ

Nhìn chung tùy vào cách sử dụng phổ biến có thể chia tính từ thành bốn loại sau:

  • Tính từ thuộc tính: Là một phần của danh ngữ có danh từ mà nó xác định. Ví dụ: Happy là một tính từ thuộc tính trong “happy people”. Trong một số ngôn ngữ, tính từ thuộc tính đứng trước danh từ của nó. Trong ngôn ngữ khác, nó theo sau danh từ của nó, trong những ngôn ngữ khác nữa nó phụ thuộc vào tính từ hay mối quan hệ nghiêm ngặt của tính từ đối với danh từ. Trong tiếng Anh, tính từ thuộc tính thường đứng trước danh từ của nó trong các ngữ đơn giản, nhưng nhiều khi nó theo sau danh từ của nó nếu như tính từ bị biến đổi/biến chất bởi một ngữ có vai trò như là một trạng từ. Ví dụ: “I saw three happy kids“, và “I saw three kids happy enough to jump up and down with glee.”
  • Tính từ vị ngữ: Là tính từ được liên kết với danh từ/đại từ mà nó xác định thông qua một copula hay các cơ chế liên kết khác. Ví dụ: Happy là một tính từ vị ngữ trong “They are happy” và trong “That made me happy.”
  • Tính từ độc lập: Là tính từ không thuộc một cấu trúc lớn hơn nào (tách biệt với tính ngữ lớn hơn) và một cách điển hình xác định vừa chủ ngữ của câu vừa bất cứ danh từ/đại từ nào sát nó. Ví dụ: Happy là một tính từ độc lập trong “The boy, happy with his lollipop, did not look where he was going.”
  • Danh tính từ: Đóng vai trò gần như danh từ. Một trường hợp mà điều này có thể xảy ra đó là khi một danh từ bị lược bỏ và một tính từ thuộc tính còn lại đằng sau. Trong câu, “I read two books to them, he preferred the sad book, but she preferred the happy” thì happy là một danh tính từ, dạng rút ngắn cho “happy one” hay “happy book”.

Trường hợp khác mà điều này có thể xảy ra đó là trong các ngữ như “out with the old, in with the new”. Trong đó “the old” nghĩa là, “that which is old” hay “all that is old”, và tương tự với “the new”. Trong các trường hợp như vậy, các chức năng tính từ vừa như là một danh từ không đếm được (như ở ví dụ trước) hay một danh từ đếm được số nhiều, như trong “The meek shall inherit the Earth“, trong đó “the meek” có nghĩa là “those who are meek” hay “all who are meek“.

Trật tự tính từ

Trật tự trong tính từ
Trật tự trong tính từ

Trong nhiều ngôn ngữ, các tính từ thuộc tính thường xuất hiện trong một trật tự xác định. Nói chung, trật tự tính từ trong tiếng Anh là:

  • Mạo từ hoặc các đại từ được sử dụng như tính từ
  • Từ tăng cường
  • Số lượng
  • Kích thước
  • Tuổi
  • Màu sắc
  • Tính động từ
  • Tính từ riêng
  • Danh từ được sử dụng như tính từ
  • Danh từ chính

Như vậy, trong tiếng Anh, các tính từ thuộc về kích thước đứng trước các tính từ thuộc về tuổi (“little old”, chứ không phải là “old little”) và nói chung đứng trước các tính từ thuộc về màu sắc (“old white”, chứ không phải là “white old”). Vì thế, chúng ta sẽ nói “A nice (opinion) little (size) old (age) white (color) brick (material) house“. Tuy nhiên, một số người bản địa sẽ nói, chẳng hạn như “a big, ugly desk” (size, opinion) thay cho “an ugly, big desk” (opinion, size).

Trật tự này có thể nghiêm ngặt hơn trong một số ngôn ngữ. Ví dụ tiếng Tây Ban Nha chỉ có duy nhất một trật tự từ mặc định là unmarked, đối với các ngôn ngữ khác thì các trật tự từ đều được phép.

Tính từ trong phép so sánh

Tính từ trong phép so sánh
Tính từ trong phép so sánh

Trong nhiều ngôn ngữ, các tính từ có thể được so sánh. Trong tiếng Anh, ví dụ, chúng ta có thể nói một chiếc xe hơi là to (big), to hơn (bigger) xe khác, hay to nhất biggest trong tất cả các xe. Tuy nhiên, không phải tất cả các tính từ cho vay mượn mình để so sánh.

Ví dụ: Tính từ tiếng Anh: Extinct (đã tắt, lạc hậu, đã chết, đã diệt vong) không được xem là có thể so sánh được, việc miêu tả cái này “more extinct” hơn cái kia là vô nghĩa. Tuy nhiên, ngay cả các tính từ không thể so sánh được nhất vẫn thỉnh thoảng được so sánh. Ví dụ: Một người có thể nói một ngôn ngữ chưa được biết tới là “more extinct” hơn một ngôn ngữ đã được sử dụng/tài liệu hóa rộng rãi với việc phục vụ học thuật nhưng không có người nói. Đây không phải là phép so sánh về cấp độ cường độ của tính từ, mà là cấp độ mà đối tượng phù hợp với định nghĩa của tính từ.

Các tính từ có thể so sánh được còn được gọi là các tính từ “có thể phân cấp được” (gradable) bởi vì chúng có xu hướng cho phép các trạng từ cấp độ như very (rất), rather (khá),…

Trong số các ngôn ngữ cho phép các tính từ có thể được so sánh theo cách này, các hướng tiếp cận khác được sử dụng. Thật vậy, ngay cả trong tiếng Anh, hai hướng tiếp cận khác được dùng là: Hậu tố -er và -est, và các từ more, most. Nhờ cả hai cách tiếp cận này nên tính từ tiếng Anh có các dạng: Nguyên thể (big), so sánh hơn (bigger), và so sánh hơn nhất (biggest). Tuy nhiên, nhiều ngôn ngữ khác không phân biệt rõ các dạng so sánh hơn và so sánh nhất.

Tới đây bạn đã biết tính từ là gì rồi đúng không nào? Mến chúc bạn tiếp tục nâng cao kiến thức với những bài viết tiếp theo của chúng tôi.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *